Riêng miền Bắc Trung Quốc thì mức bình quân nước ngọt là 300 mét khối/người. Bắc Kinh chỉ được 165 mét khối/người. Thiên Tân lại càng thảm, chỉ có 100 mét khối/người. Mọi người đều biết Israel là một quốc gia thiếu nước uống nhưng nhưng bình quân nước tự nhiên trên đầu người là 300 mét khối. Như vậy Thiên Tân chỉ bằng một phần ba của Israel.
Quốc tế có một tiêu chuẩn là nếu tỉ lệ sử dụng nước ngọt của một quốc gia dưới 20% thì có thể chấp nhận được, còn nếu lên đến 40% thì quốc gia đó chạm mốc báo động đỏ. Trung quốc ở mức 106 % của lưu vực sông Hải Hà, tức là nếu dùng hết một lượt nước sông Hải Hà thì cũng không đủ cho dân dùng và họ phải tiếp tục dùng lần hai . Dòng sông mẹ Hoàng Hà đã bị dùng đến 80% rồi. Điều này dẫn đến có sông thì sông cũng cạn, có nước thì cũng là nước bẩn. Khi dùng nước sông không đủ thì phải đào giếng khai thác nước ngầm. Mạch nước ngầm ở miền Bắc Trung Quốc cách mặt đất 30 đến 40 mét, sâu nhất là 100 mét. Chỉ phụ thuộc vào mạch nước ngầm là một sự uy hiếp đối với đời sống dân sinh.
Qua mấy chục thế hệ không ngừng tìm tòi học hỏi, vào đầu thế kỷ 21 Tổng công trình hệ thống điều tiết nước miền Nam cho miền Bắc (南水北调工程) đã được thông qua dự kiến hoàn thiện vào năm 2050 Hình thành 3 đường ống dẫn nước từ miền Nam ra miền Bắc,
Tuyến phía Đông ( Đông tuyến) từ điểm dưới cùng hạ du sông Trường Giang. Trạm bơm Giang Đô (江都Jiang Du) của Dương Châu (扬州Yang Zhou ) tỉnh Giang Tô (江苏Jiang Su) bắt đầu hút nước. Địa thế phương Bắc tương đối cao nên ở trạm bơm Giang Đô họ đã bố trí bơm cấp 30. Độ cao dâng nước của trạm bơm có thể đạt tới 65 m.
Tuyến ống ở giữa (tạm gọi là Trung tuyến ) là từ Đơn Giang Khẩu (丹江口Dan Jiang Kou) của sông Hán Giang (汉江Han Jiang) , nhánh lớn nhất của sông Trường Giang (长江 Chang Jiang) dẫn nước qua 1276 km đường ống dẫn nước thẳng tới Bắc Kinh, tại đây lại rẽ một nhánh ống dài 146 km nữa để dẫn nước về thành phố Thiên Tân. Như vậy tổng chiều dài của Trung Tuyến là 1432 km.
Tuyến thứ ba là tuyến phía Tây (tạm gọi là Tây tuyến). Đây là tuyến ống bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng (青藏Qing Zang) tức là vùng thượng du của sông Trường Giang, xuyên qua các mạch núi, dùng hình thức ống ngầm, trực tiếp đẩy nước về thượng du sông Hoàng Hà.
Sau khi thi công ba tuyến ống này xong, Luồng nước thu được trong hệ thống dẫn từ sông Trường Giang đến miền Bắc Trung Quốc tương đương một con sông Hoàng Hà.
Khi thi công Trung tuyến, người ta chọn con đập Đơn Giang Khẩu để làm điểm khởi đầu nhưng để chuyển 9500 tỉ mét khối nước về thành phố Bắc Kinh thì bắt buộc phải nâng độ cao đập cũ lên. Đập cũ chỉ cao 162m so với mực nước biển, mực nước dâng bình thường là 157m. Các kiến trúc sư đã thiết thế tăng độ lên mức 176.6 m cho đập. Tức là thêm 40% áp lực cho con đập. Vấn đề là sau khi hoàn thành liệu lớp bê tông mới trét lên với lớp cũ có ăn khớp được với nhau hay không vì sau khi tăng thêm độ cao thì bê tông cũ vẫn phải hoạt động bình thường để giữ vững nhiệm vụ phòng lũ. Qua 10 năm nghiên cứu thì họ nghĩ ra lý luận hỗ trợ phía sau kết hợp với tăng độ cao 后帮有限结合加高理论. Tức là xây dựng bê tông chống đỡ phía sau đồng thời đổ thêm bê tông lên trên đập cũ để tăng độ cao mong muốn. Sau khi công trình hoàn thành thì qua số liệu đo đạc độ kết dính của hai lớp bê tông là trên 50%. Sức chứa nước của đập Đơn Giang Khẩu là 22 tỉ khối nước.
Ưu điểm của đường ống Trung tuyến là thực hiện dòng chảy tự nhiên của toàn tuyến. Tuyến ống này xuyên qua 685 dòng chảy của các con sông lớn nhỏ khác nhau, và cắt qua vô số đường bộ và đường sắt khác. Nhưng yêu cầu của nước khi đến Bắc Kinh và Thiên Tân là phải một loại nước đồng nhất nên bắt buộc phải xây dựng đường ống khô tách biệt với các công trình khác. Nó phải được xây dựng theo kiểu xuyên dựng đứng (立体交叉) như kiểu truyền thống dùng cây chống ống nứa dẫn nước (架槽) hoặc xuyên đường ống xuống đáy sông . Do vậy có 2387 tòa kiến trúc được xây vì công trình Trung tuyến này.
. Trong quá trình làm, các kiến trúc sư vấp phải con sông Thoan Hà (湍河) vì nó chảy xiết nên mới có tên Thoan. Họ xây dựng hệ thống máng cầu vượt, khoảng cách giữa bệ máng vượt là 40 m. Trọng lượng của luồng nước truyền qua máng (ống) nước này 6600 tấn tương đương với trọng lượng của của 30 đoàn tàu điện ngầm cùng trượt đồng thời. Trọng tải lớn là vậy nhưng chỗ mỏng nhất của vách máng treo(渡槽) chỉ là 35 cm. Vấn đề nếu đúc bê tông máng trước rồi đưa lên trên cầu giá đỡ thì khó. Buộc các kỹ sư phải chế tạo ra máy đúc bê tông cực đại. Làm đến đâu, máy chạy theo đường ray đúc cố định ngay vị trí đó luôn. Từ khi đổ hồ đến khi bê tông khô thì máy tự động mở khuôn và chạy về vị trí cũ. Vì vậy mang tiếng là công trình mang tầm vóc thế kỷ nhưng nhờ tự động hóa mà tốn ít nhân lực.
Công trình đường ống dẫn nước Trung Tuyến cứ kéo dài bằng phương pháp ấy cho đến khi gặp sông Hoàng Hà thì lại phải nghĩ cách làm sao mà xuyên qua con sông này? Cả thế giới đều quan tâm đến vấn đề này. Khi đó đội ngũ chuyên gia tách thành hai phe: phe dùng phương pháp Máng Cầu Vượt(架槽 )và phe dùng phương pháp Động Ngầm(隧洞). Họp hành mà tay các phe đập bàn đập ghế rầm rầm. Nếu dùng phương pháp cũ, tức là máng cầu vượt sông thì lâu ngày sẽ xuất hiện các điểm tích tụ dòng chảy dẫn đến tích tụ phù sa theo như câu mà người Trung Quốc từ xưa truyền dạy rằng “30 năm Hà Đông, 30 năm Hà Tây (三十年河东,三十年河西)”. Nếu dùng phương pháp máng cầu thì phải cần 100 trụ cắm vào lòng sông. Như vậy ảnh hưởng vô cùng lớn dòng chảy của sông và cuối cùng là ảnh hưởng đến an toàn lũ lụt của sông. Sau khi tranh cãi gay gắt thì cuối cùng chọn phương pháp động ngầm (隧洞).
Nhưng địa chất dưới đấy sông Hoàng Hà rất phức tạp. Lớp đất mềm dày tới 80 mét. Còn có thêm đất sét (黏土), đất thịt (壤土) nên phải dùng dùng máy khoan hầm toàn tiết diện (盾构机) để khoan nhưng loại máy này rất sợ những kiểu địa chất như thế này. Thứ hai là độ dài đường ống xuyên sông rất lớn (4250 m). Khi đó năng lực máy khoan hầm chỉ đạt 2 đến 3 km, liệu công trình động ngầm dài hơn 4 km có thể làm nổi không. Nó không giống như đường hầm cho tàu điện ngầm chạy mà nó là đường của nước áp lực cao chạy. Áp lực nước là 0.51 Pascal, tức là mực nước 51 m. Còn bên ngoài áp lực nước sông Hoàng Hà tạo áp lực với mực nước là 30 m. Ống thông thường không thể chịu được kiểu áp lực từ hai phía như thế này. Các kỹ sư lại tạo ra loại ống dẫn nước ngầm có kết cấu bê tông dự ứng lực(预应力复合衬砌输水隧洞). Bê tông dự ứng lực tức là loại đã biết áp suất chịu đựng từ trước.
Đầu tiên là dùng máy khoan toàn tiết diện xuyên lòng sông, bên ngoài có một ống ngầm bao lấy máy khoan. Tức là khi múi khoan tiến lên thì nó cũng đồng thời tự động lắp ráp những mảnh ghép của đường ống dẫn nước. Từng vòng từng vòng đoạn ống dẫn nước cứ thế hình thành rồi bịt kín các khe hở. Kết cấu các lớp trong ống là liên hợp nhưng tính năng thì độc lập. Cây cổ, đá lẻ cộng thêm lớp cát sông làm sứt mẻ lưỡi dao cắt của máy. Hư là phải thay lưỡi nhưng việc thay lưỡi dao nguy hiểm vô cùng. Vì bên ngoài mũi khoan phải chịu áp lực của nước và đất trong lòng sông. Mực nước cao mười mấy mét. Công nhân lặn xuống thay lưỡi dao làm không khéo lại dẫn đến người chết, máy hư . Qua mấy trăm lần thay lưỡi nguy hiểm ấy, từ bờ bắc phải mất gần hai năm thi công mới xuyên được đến bờ nam. Cứ như thế, công trình này mất 11 năm để hoàn thành toàn bộ đường ống dẫn nước Trung tuyến từ Trường Giang đến Bắc Kinh và Thiên Tân. 14h32 phút ngày 12 tháng 12 năm 2014 Đào Sá Cừ (陶岔渠Yao Cha Qu) chính thức mở cống, sau 15 ngày chảy qua 1432 km đường ống thì đến Bắc Kinh và Thiên Tân.
Công trình đường ống Trung tuyến đã khoét 880 triệu khối lượng vuông đất đá (Mỗi khối lượng vuông được tính bằng cách tính lượng đất đá của một ô vuông có kích thước 10m*10m), tương đương với đào 63 cái hồ Tây của Trung Quốc. Hơn 3000 khối lượng vuông bê tông đã được đúc làm đường ống dẫn nước. Với khối lượng bê tông này có thể xây 2 cái đập thủy điện Tam Hiệp. 1,78 tỉ tấn sắt đã được sử dụng. Từng đó có thể xây 43 cái nhà thi đấu tổ chim phục vụ Olympic Bắc Kinh.
Sau sáu năm vận hành, đến ngày 31/10/2020 vừa qua, hệ thống ống này đã cung cấp 34 tỉ mét khối nước cho 67 triệu dân miền Bắc Trung Quốc. Mục đích ban đầu, công trình này chỉ sử dụng khi nước ở miền Bắc không đủ. Nhưng ngày càng người dân lại càng ưa chuộng nước chảy từ sông Trường Giang. Điều này làm giúp những con sông ở miền Bắc giữ được nhiều lượng nước hơn, Những thảm thực vật được hồi sinh, góp phần đa dạng sinh học.
Đến năm 2050 thì đại công trình dẫn nước miền Nam ra Bắc này mới thực sự hoàn thành trọn bộ ba tuyến ống dẫn nước. Có thể nói, nếu như Vạn Lý Trường Thành 万里长城và con sông nhân tạo Kinh Hàng Đại Vận Hà 京杭大运河 là những công trình tầm cỡ thế kỷ của thời cổ đại Trung Hoa thì công trình dẫn nước miền Nam ra Bắc này cũng là một công trình thế kỷ của Trung Quốc.
Bình Dương, ngày 20/12/2020
Phiên dịch viên: Tây Nguyên Xanh
****
Nội dung được phiên dịch từ chương trình 开讲了 phát trên CCTV1 ngày 28/11/2020. Link chương trình ở bên dưới: https://www.youtube.com/watch?v=yapxdT7DT14&t=1145s

0 comments:
Post a Comment