Mọi trao đổi xin liên hệ: bientaynguyen@gmail.com

Saturday, April 15, 2023

NHỮNG ỨNG DỤNG CỦA CÔN TRÙNG HỌC PHÁP Y TRONG ĐIỀU TRA HÌNH SỰ

Tác giả ảnh: Đặng Thanh Tình

   Côn trùng học pháp y (Forensic entomoligy) là một bộ môn khoa học có vai trò quan trọng trong việc đi tìm những bí ẩn của tử thi. Ý nghĩa quan trọng nhất của nó là xác định thời gian tử vong của nạn nhân. Tiếp đó là xác định vết thương gây án, hung thủ có quay lại hiện trường hay không, xác định đúng hiện trường gây án và trước khi chết, nạn nhân có sử dụng chất kích thích hay không.

     Khi một người hoặc động vật chết đi, chỉ trong vòng vài phút sau sẽ có những con côn trùng thuộc bộ Ruồi (Diptera) đến đẻ trứng. Những con ruồi tuy đã trưởng thành về vóc dáng nhưng cơ quan sinh dục ngoài của chúng vẫn chưa hoàn thiện. Hoa quả thối có thể là nguồn thức ăn nuôi sống chúng hằng ngày nhưng phải có protein trên xác thối thì chúng mới có thể đẻ trứng được. Và các con dòi ấu trùng của nó chỉ có thể sinh trưởng trong môi trường xác thối cho nên những con ruồi phải tìm mọi cách kiếm những cái xác tươi nhất có thể để duy trì nòi giống.

     Những con ruồi ưu tiên xâm lấn vào những vết thương hở để hút máu đầu tiên. Nếu trước khi chết, nạn nhân không hề bị trầy xước ngoài da thì những con ruồi sẽ xâm lấn vào khoé hốc mắt, lỗ mũi, miệng. Những nơi này màng da mỏng nên dễ dâm vòi vào hơn lớp da dày chỗ khác. Khi tiếp cận một đám ấu trùng nào đó, các bác sĩ pháp y sẽ cố gắng xác định con nào có tuổi đời già nhất để xác định thời gian tử vong tối thiểu. Bởi vì các loài ruồi chỉ hoạt động vào ban ngày cho nên nếu nạn nhân chết vào ban đêm thì phải đến trời sáng hôm sau mới có ruồi đến đẻ trứng, cho nên thời gian tử xong chỉ là con số gần nhất có thể.

    Nếu nạn nhân trước khi chết đã từng dùng thuốc kích thích, ví dụ Coain. Máu của nạn nhân có chứa các chất này sẽ khiến các ấu trùng của ruồi phát triển với kích thước đột biến. Bởi vậy dựa vào kích thước của ấu trùng, các bác sĩ pháp y có thể biết nạn nhân có sử dụng thuốc gì không.

    Khi nạn nhân tử vong ở hiện trường gây án rồi sau đó lại bị hung thủ di chuyển đến hiện trường mới. Hoặc vì lý do tâm lý mà các hung thủ thường quay lại hiện trường gây án, sự tác động vật lý đến thi thể cũng khiến sự xáo trộn các mối cân bằng của hệ côn trùng đang sống trong tử thi. Với sự khảo sát sự đa dạng chủng loại, tuổi đời của ấu trùng mà các chuyên gia côn trùng học có thể biết được có bao nhiêu kiểu môi trường mà tử thi đã trải qua.

***

Nội dung được lược dịch từ Trang 172 đến trang 199, giáo trình khoa học hình sự: Forensic Science, An Introduction to Scientific and Investigative Techniques tái bản lần thứ 4 của Stuart H.James, Jon J.Nordby & Suzanne Bell
Bình Dương, 15/04/2023
Biên dịch viên: Tây Nguyên Xanh

1 comment

Tuesday, April 11, 2023

VẬN DỤNG KIẾN THỨC TẬP TÍNH CON RUỒI TRONG PHÁ ÁN HÌNH SỰ THỜI PHONG KIẾN

   Trong lịch sử ngành khoa học hình sự thời phong kiến Trung Quốc có án lệ nổi tiếng nhất liên quan đến con ruồi (苍蝇). Quan pháp y trứ danh thời Nam Tống tên là Tống Từ (宋慈) đã ghi chép tỉ mỉ trong cuốn sách Tẩy Oan Tập Lục (洗冤集录) rằng:

Tác giả ảnh: Đặng Thanh Tình

     Có một người bị sát hại. Thi thể bị vứt ven đường. Ban đầu quan phủ nghi ngờ người này bị bọn cướp hãm hại nhưng qua quá trình khám nghiệm, phát hiện tài sản vẫn còn trên thi thể. Toàn thi thể có hơn 10 vết thương do cái liềm cắt lúa gây ra. Quan phụ trách trinh sát nói rằng nếu người này bị cướp sát hại thì tài sản phải mất chứ. Huống hồ có rất nhiều vết thương. Chắc chắn hung thủ có thâm thù đại hận gì với nạn nhân. Ông liền hỏi vợ của nạn nhân rằng chồng của cô đã từng gây thù chuốc oán với ai. Người vợ đáp rằng chồng mình bản tính nhân hậu, chưa từng làm phật lòng ai. Chỉ là dạo gần đây có người cùng thôn đến mượn tiền nhưng chồng cô không cho. Người đến này đã từng nói lời độc ác. Quan liền ra lệnh toàn bộ dân trong thôn đem liềm cắt lúa của họ gom lại để trình kiểm. Nếu nhà nào không giao nộp thì kẻ ấy là sát nhân, bắt ngay tại trận luôn. Thời điểm ấy đang là mùa hè oi ả, quan viên đặt toàn bộ liềm đặt trên đất. Trong đám liềm ấy có một cái bị ruồi tập trung bu lên. Quan ngay lập tức hỏi liềm này của ai. Có người nhận là liềm của mình. Người này chính là sát nhân nhưng một mực không nhận tội. Quan nói liềm của cả làng không ai bị ruồi bu cả, chỉ có liềm của ngươi còn mùi tanh máu còn vương lại nên ruồi đánh hơi được. Còn cãi à? Mọi người xem xử án đều á khẩu thán phục. Kẻ sát nhân cũng chỉ biết cúi đầu nhận tội. Từ án lệ này cho thấy thời nhà Tống, quan pháp y đã có nghiên cứu về côn trùng học. Con ruồi rất nhạy cảm với mùi của tanh máu động vật.

    Vụ án thứ hai cũng nhờ ruồi mà phá được án. Ấy là ở triều đại nhà Thanh, học giả Hồ Văn Bính (胡文炳) đã kể trong sách Chiết Ngục Quy Giám Bổ (折狱龟鉴补) về một vụ án liên quan đến ruồi như sau:

    Một thương nhân bị kẻ cướp sát hại. Điều tra tỉ mỉ rất lâu vẫn không tìm ra hung thủ. Quan huyện ra lệnh ép các quan bổ dịch (người phụ trách điều tra) phải bắt thủ phạm về quy án trong thời gian sớm nhất. Các quan bổ dịch đành phải phải tập trung tư liệu nhờ một vị quan bổ dịch đã nghỉ hưu đến giúp. Ngày nọ, cựu bổ dịch ngồi bên sông uống trà. Ông trông thấy có con thuyền chèo đến. Ông nói sát nhân ở trên con thuyền kia kìa. Quả nhiên sau thời gian thẩm tra thì người đó nhận tội. Quan huyện và các quan bổ dịch không biết cựu bổ dịch phá án bằng cách nào. Hỏi ra mới hay cựu bổ dịch ấy nhìn thấy đuôi con thuyền có treo cái chăn (mền) lụa với giặt. Trên khăn có rất nhiều con ruồi xanh bám lên. Đối với vải lụa, khi đem đi giặt chỉ có thể làm mất vết máu nhưng mùi tanh máu vẫn còn lưu lại. Chăn sạch này lừa được mắt người nhưng không lừa được những con ruồi. Chăn lụa vốn là vật cho người đắp lên, mặt trên nó không mười phần thì cũng có đến tám chín phần là thấm máu người. Huống hồ, chủ thuyền kia còn có tiền, lúc giặt chăn kiểu gì cũng gấp mặt chăn. Mà nếu nguyên cả chăn đều ngâm trong nước giặt thì chắc chắn nó đã thấm đều máu của nạn nhân.

***
   Trích dịch từ bài báo 古代笔记中的“名侦探苍蝇” của 呼延云 trên báo điện tử thepaper.cn
Bình Dương 14/04/2023
Phiên dịch viên: Tây Nguyên Xanh

1 comment

Monday, March 27, 2023

THỬ TÌM HIỂU CÁCH BÀO CHẾ NƯỚC SIRO TRÁI CÂY THỜI ĐỨC PHẬT CÒN TẠI THẾ



    Trong phần mở đầu bộ kinh Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Dược Sự (tiếng Pali là Mūlasarvāstivāda Vinayapiṭaka) của Phật giáo do pháp sư Tam Tạng, thời nhà Đường (Trung Quốc) biên dịch, đức Phật đã nêu tám loại nước uống giúp chữa bệnh sốt vàng da như sau:

1. Chiêu Giả Tương (招者漿): Đây là nước siro của quả lê Điên Chuỳ, tên khoa học là Pyrus bretschneideri

2. Mao Giả Tương (毛者漿): Đây là nước siro của hỗn hợp quả chuối hột và bột của hạt hồ tiêu. Tên khoa học của cây chuối này là Musa basjoo

3. Cô Lạc Ca Tương (孤洛迦漿): Tiếng Pali là Kurakā. Đây là nước siro của quả nhũ hương, tên khoa học của cây là Boswellia thurifera.

4. A Thuyết Tha Tương (阿說他漿): Tiếng Pali là Aśvattha. Đây là nước siro của quả sung có tên khoa học của cây là Ficus religiosa

5. Ô Ô Đàm Bạt La Tương(烏曇跋羅): Tiếng Pali là Udumbara. Đây là nước siro của quả sung có tên khoa học là Ficus glomerata.

6. Bát Lỗ Sái Tương (鉢魯灑漿): Tiếng Pali là Parūṣa. Đây là nước siro của quả Bời Lời (Cò Ke) Á Âu. Tên khoa học của cây là Grewia asiatica.

7. Miệt Lật Truỵ Tương (篾栗墜漿): Tiếng Pali là Mṛdvikā. Đây là nước siro nho Raisin

8. Khát Thọ La Tương(渴樹羅漿): Tiếng Pali là Kharjura. Đây là nước siro của quả chà là. Tên khoa học của cây là Phoenix dactylifera

    Vậy nước Tương mà bây giờ chúng ta hiểu nước Siro ấy thời đức Phật còn tại thế, ở bên Ấn Độ người ta đã bào chế như thế nào? Thông qua một bài báo nghiên cứu về loại nước uống Tam Lặc Tương (三勒漿) du nhập vào Trung Quốc bằng con đường Tơ Lụa thời nhà Đường trên tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử của đại học Bắc Kinh. Tam Lặc Tương ấy là một loại siro của hỗn hợp ba loại quả Ha Lê Lặc (诃梨勒tiếng Pali là harītakī, quả Chiêu Liêu có tên khoa học Terminalia chebula Retz), Tỳ Lê Lặc (毗梨勒, quả Bàng Hôi có tên khoa học Terminalia bellirica) và Am Ma Lặc (庵摩勒, tiếng Pali là āmalaka. quả me rừng có tên khoa học Phyllanthus emblica). Ngày ấy, người nhà Đường: “giã dập chứ không giã nhuyễn các loại quả này. Sau đó đổ một đấu Bạch Mật (白蜜Loại mật ong màu trắng tạo ra do ong ăn mật hoa cây Dương Hoè (Robinia pseudoacacia)), hai đấu nước Tân Cấp Thuỷ (新汲水một loại dầu ngọt hút lên từ lòng đất, thành phần hoá học chủ yếu là hợp chất Edetate disodium C10H14N2Na2O8). Sau đó đảo đều, bịt kín hũ. Ba bốn ngày sau mở ra đảo lẫn nữa. Lại bịt kín hũ đến 30 ngày sau nó sẽ có hương vị ngọt. Người uống sẽ bị say, bụng tiêu hoá tốt, bụng hết đầy hơi. Nếu đợi tám tháng sau mới thực sự ngon.” Như vậy qua cách làm được miêu tả trong sách Tứ Thời Đoản Yếu (四时纂要) viết từ thời nhà Đường này thì chúng ta có thể hình dung cách làm nước siro trái cây của người Ấn Độ xưa.

----

Tổng hợp kiến thức và trích dịch từ các file PDF tài liệu:

1. Kinh phật Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Dược Sự hai phiên bản tiếng Trung và tiếng Việt.

2. Chuyên đề nghiên cứu法出波斯” :“三勒浆”源流考 của 陈明 trên tạp chí 歷史研究 số 335, xuất bản ngày 25/02/2012 của Trung Quốc.

3. Từ điển Phật học phiên bản Trung – Anh và các sách cây thuốc của Ấn Độ và Trung Quốc hai phiên bản tiếng Anh và Trung Quốc. Và các nghiên cứu về kinh Mūlasarvāstivāda Vinayapiṭaka trên tạp chí Journal of Indian and Buddhist Studies khác

***
Bình Dương, 2703/2023

Biên dịch: Tây Nguyên Xanh
1 comment

Thursday, March 23, 2023

CON ONG MẬT TRONG KINH QUR’AN CỦA ĐẠO ISLAM (HỒI GIÁO)

Tác giả ảnh: Phan Thức


     Kính mừng đại lễ tháng Ramadan (năm nay là 23/03/2023-20/04/2023) của các bạn theo đạo Islam. Đặc biệt gửi lời thương mến đến cộng đồng người Chăm ở bốn tình thành đó là An Giang, Ninh Thuận, Bình Thuận và thành phố Hồ Chí Minh. Tôi có một lời hứa tham gia bữa cơm xả chay cùng anh em đạo hữu tại thánh đường nhưng 7 năm rồi chưa thực hiện được. Áy náy lắm thay. Hôm nay nhân đọc cuốn Thiên Kinh Qur’an bản Việt ngữ để tìm những câu viết về loài ong mật. Xin chép lại như một sự trân trọng đến đức Allah, “Đấng rất mực độ lượng, Đấng rất mực khoan dung” của các bạn:

    “67.- Và (một bài học) từ trái Chà Là và trái Nho mà các người ép ra chất rượu và có được một loại lương thực tốt. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu cho một đám người thông hiểu.

     68.- Và Rabb (Allah) của Ngươi (Muhammad) đã mặc khải cho ong mật rằng: “Hãy xây tổ (làm nhà) trên núi, và trên cây và trên những vật mà họ (nhân loại) đã dựng lên.

     69.- “Và hãy ăn (hút mật) từ mỗi loại trái cây, rồi hãy đi theo các con đường thành thuộc của Rabb của ngươi”; từ trong bụng của chúng tiết ra một loại chất uống có nhiều mầu sắc khác biệt; trong đó chứa một dược liệu chữa bệnh cho nhân loại. Chắc chắn, trong sự việc đó là một dấu hiệu cho một đám người biết ngẫm nghĩ.”

***
     Trích điều 67, 68, 69 của Surah 16. An-Nahl (Ong Mât) trong cuốn Thiên Kinh Qur’an do Hassan Bin Abdul Karim chuyển ngữ tiếng Việt với sự hiệu đính của Sheikh Abdul Halim Ahmad Nguyễn và Sheikh Muhammad Afandi b. Muhamad Yusof
Bình Dương, 23/03/2023
Tây Nguyên Xanh

1 comment

Sunday, March 19, 2023

CÂY CHUỐI TRONG PHÉP THUẬT BÙA NGẢI

Tác giả ảnh: Diego Oliveira


     Có một người anh mê trà tâm sự với tôi rằng rất ngại nhận cây do người khác tặng vì sợ bị bỏ bùa. Chủ đề này có vẻ hấp dẫn, nhân thể tôi đọc tuyển tập những loài cây dùng làm bùa ngải của nhà nghiên cứu và thực hành tâm linh Scott Cunningham (1956-1993). Tôi sẽ lược dịch những loài thực vật có trồng ở Việt Nam và đã từng được dùng làm bùa ngải ở một số nơi trên thế giới.

      Để hiểu được nội dung này, các bạn phải biết rằng mỗi một loài cây đều có giới tính riêng, thuộc một hành tinh và nhân tố khí chất riêng. Giới tính thì có hai loại, hẳn rồi, đó là đực và cái. Còn hệ hành tinh trong văn hoá tâm linh thực vật là Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao Thuỷ, Sao Hoả, Sao Kim, Sao Mộc, Sao Thổ. Các nhân tố khí chất trong tâm linh thực vật gồm: Đất, Khí, Lửa, Nước.

      Với cây chuối, cụ thể là giống chuối mà người Nghệ Tĩnh chúng tôi gọi là chuối cau. Ở quê tôi, người ta chỉ cúng loại chuối này. Nó có tên khoa học là Musa sapientum. Cây này có giới tính là cái, thuộc hành tinh Sao Kim và khí chất là nước. Vị thần của chuối là Kanaloa. Chuối là biểu trưng cho năng lượng sinh sôi, quyền thế và của cải. Trong lễ tế thần ở đảo Hawaii và Tahiti, một thân cây chuối đôi khi được dùng như hiện thân của con người. Sau khi giải mã hình xăm Kapu ở Hawaii năm 1819, người ta biết rằng chuối là một trong những thức ăn bị cấm đối với phụ nữ đang phải chịu những cơn đau của không thể cứu chữa được. 

       Ngày nay chuối vẫn được dùng làm bùa ngải trong phép thuật Voodoo của cộng đồng người da đen tại Mỹ. Hoa chuối được coi là lưỡng tính (ái nam ái nữ). Vì chuối là biểu trưng cho sinh sôi cho nên nó được dùng trong các bùa chữa chứng giảm ham muốn tình dục. Và có lẽ vì ý nghĩa này mà nếu một cô dâu nếu được hành lễ kết hôn dưới một cây chuối thì sẽ không thể có hạnh phúc. Lá, hoa và quả chuối được dùng trong các loại bùa mưu cầu tài sản. Vì vậy khi ăn chuối, người ta bẻ trái chuối từ nhánh chứ không bao giờ dùng dao để cắt.

Bình Dương, 19/03/2023
Tây Nguyên Xanh

1 comment

Saturday, March 18, 2023

NHỮNG LOÀI THỰC VẬT VÀ KHOÁNG CHẤT CÓ TRONG BỨC TRANH “CUNG ĐIỆN CỦA PHẬT DƯỢC SƯ”

    

    Trong quá trình tra tên khoa học những loài cây dùng để ứng phó với dịch bệnh cúm mùa thu, sốt vàng da trong Đại Tạng Kinh của Phật giáo, khá thú vị khi tôi thấy bức tranh này trên website của bảo tàng Rubin. Bức tranh này có tên là Cung Điện Của Phật Dược Sư, có 77 loài cây và khoáng vật trong này. Có bốn vùng nền mực tượng trưng có bốn vùng phân bố khác nhau của các nhóm cây này. Theo số thứ tự đánh dấu trên bức vẽ như sau:

(+) Nhóm cây ở phần nền màu xanh: Phân bố ở phía bắc núi Himalaya

Phía bắc núi Himalaya được thiên nhiên ưu đãi năng lượng của mặt trăng nên được bao vây bởi rừng cây thuốc có vị đắng và ngọt dịu the mát. Chúng được dùng để chữa những chứng rối loạn nhẹ kiểu ốm vặt.

1. Cây đàn hương trắng (Santalum album)

2. Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Hare. Ban đầu người dịch nghĩ là cỏ đuôi thỏ nhưng không giống lắm nên chịu.

3: Cây long não (Cinnamomum camphora)

4: Cây trầm hương (Aquilaria malaccensis)

5: Cây tai voi - Một loài cây thuộc chi Colocasia của họ Ráy Aroideae

6: Cây xoan (Melia azedarach)

7: Cây long đởm – Một loài cây thuộc họ Long Đởm Gentianaceae

8: Cây cam thảo Âu (Glycyrrhiza glabra)

9: Cây Civamcivaka – Theo ý chủ quan của người dịch thì có thể là cây Sầu Đâu (Azadirachta indica)

10: Cây tía tô Tây (Plectranthus scutellarioides)

11: Cây phụ tử trắng, còn gọi là cây (làm thuốc) bã sói – Một loài cây thuộc chi Ô Dầu Aconitum

12: Không biêt cây gì, nguyên tác ghi là Saiga antelope – Người dịch cho rằng cây này là thức ăn cho loài nai Saiga antelope

13: Cây đàn hương đỏ (Pterocarpus santalinus)

14: Cỏ tê giác (Dicerothamnus rhinocerotis)

15: Cây nam mộc hương (Aristolochia clematitis)

16: Lá của loài cây có tên khoa học là Asplenium platyneuron

17: Cây Kapok, cây Gạo hay Pơ Lang đang trổ hoa (Bombax ceiba)

18: Cây nho đang có quả chín

19: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Sparrow. Mới đầu người dịch cho rằng nó là tên tiếng anh của cây Măng Tây nhìn hình dáng không giống. Chắc là loài cây mà chim sẻ hay ngủ

20: Nguyên tác chú giải là Himalayan black bear – Người dịch cho rằng đây là loài cây mà gấu ngựa (Ursus thibetanus) thường hay ăn quả và lấy mật ong.

(+) Nhóm cây ở phần nền màu tím: Phân bố ở phía đông núi Gandhamadana

Ngọn núi có cái tên nghĩa là hương thơm này, ở phía đông được thiên nhiên ưu đãi năng lượng của mặt trời và mặt trăng nên có một rừng cây Arura còn gọi là cây Chiêu Liêu (Terminalia Chebula). Cây này là thành phần chủ yếu của y học khu vực Tây Tạng. Nó có tác dụng chữa các chứng rối loạn.

21: Cây chiêu liêu có quả hình mỏ chim.

22: Cây chiêu liêu quả vàng

23: Cây chiêu liêu quả đen nhỏ

24: Cây chiêu liêu “khô”

25: Cây có tên khoa học là farfugium japonicum

26: Cây chiêu liêu “làm giàu” (nguyên tác là “Enriching” myrobalan)

27: Cây chiêu liêu mật

28: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Peacock.

29: Cây chiêu liêu “không sợ hãi” (Nguyên tác: “Fearless” myrobalan)

30: Cây chiêu liêu ‘chiến trắng”. (Nguyên tác: “Victorious” myrobalan)

31: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Sparrow. Mới đầu người dịch cho rằng nó là tên tiếng anh của cây Măng Tây nhìn hình dáng không giống. Chắc là loài cây mà chim sẻ hay ngủ

32: Không biêt cây gì, nguyên tác ghi là Saiga antelope – Người dịch cho rằng cây này là thức ăn cho loài nai Saiga antelope

33: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Tiger. Người dịch ban đầu tưởng là tên tiếng Anh của cỏ hổ (Thysanolaena maxima) nhưng có lẽ không phải.

(+) Nhóm cây ở phần nền màu hồng: Phân bố ở phía nam núi Vindhya

Phía nam núi mà có tên có nghĩa là nhọn này được ưu đãi năng lượng của mặt trời nên có nhiều loài cho vị mặn, chua, cay có tác dụng chữa chứng rối loạn do nhiễm lạnh.

34: Cây và quả điệp mắt mèo (Caesalpinia bonducella)

35: Cây Civamcivaka – Theo ý chủ quan của người dịch thì có thể là cây Sầu Đâu (Azadirachta indica)

36: Một loài cây thuộc chi Mao Lương Ranunculus đang trổ hoa

37: Một loài cây thuộc chi Đỗ Quyên Rhododendron

38: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Eurasian cuckoo, chắc là cây mà loài chim cu Á Âu hay đậu ngủ.

39: Cây thuộc chi hoa Ông Lão Clematis

40: Nguyên tác chú giải là cây Himalayan black bear – Người dịch cho rằng đây là loài cây mà gấu ngựa (Ursus thibetanus) thường hay ăn quả và lấy mật ong.

41: Cây thông

42: Cây hoa mỏ vẹt (Impatiens niamniamensis)

43: Cây Saiga antelope – Người dịch cho rằng cây này là thức ăn cho loài nai Saiga antelope

44: Cây quế đơn (Cinnamomum cassia)

45: Cây quế (Cinnamomum loureirri)

46: Cây thuộc chi Muối Rhus

47: Một loài cây mà hươu xạ hay ăn lá và nghỉ ngơi ở dưới gốc

48: Cây A Nguỳ Asafoetida

49: Cây này không biết cây gì chỉ biết là có voi đứng nghỉ ở dưới, nguyên tác chỉ ghi là Elephant

50: Cây thuộc chi ớt Capsicum

51: Cây tiêu lốt (Piper longum)

52: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Sparrow. Mới đầu người dịch cho rằng nó là tên tiếng anh của cây Măng Tây nhìn hình dáng không giống. Chắc là loài cây mà chim sẻ hay ngủ

53: Cây hồ tiêu (Piper nigrum)

54: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Peacock.

55: Cây lựu (Punica granatum)

(+) Nhóm cây ở nền màu xanh dương: Phân bố ở phía tây núi Malaya

Phía tây ngọn núi mà tên có nghĩa là vòng hoa này hội tụ năng lượng của mặt trăng và mặt trời nên là nguồn của sáu loại thuốc cao cấp nhất. Ngoài ra còn có các khoáng vật nữa.

56: Cây nhục đậu khấu (Myristica fragrans)

57: Cây đinh hương (Syzygium aromaticum)

58: Cây tre

59: Cây nghệ tây (Autumn Crocus)

60: Cây thường dùng làm gia vị có tên khoa học là Elettaria cardamomum

61: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Monkey

62: Cây tương tự cây Elettaria cardamomum nhưng lớn hơn.

63: Đá vôi “con gái” (“Girl” limestone)

64: Đá vôi trung tính (“Neuter” limestone)

65: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Deer

66: Nước suối khoáng

67: Đá vôi con “con trai” (“Boy” limestone)

68: Đá vôi nam (“Male” limestone)

69: Đá vôi nữ (“Female” limestone)

70: Nhựa chì đen

71: Nhựa sắt

72: Năm loại suối nước nóng.

73: Nhựa chì đồng (Copper bitumen)

74: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Tibetan elk

75: Nhựa bạc (Silver bitumen)

76: Nhựa vàng (Gold bitumen)

77: Không biết cây gì, nguyên tác ghi là Peacock

***

Hình ảnh và bài viết được dịch từ bài viiết “In the forest of the Medicine Buddha’s Mandala” của học giả Elena Pakhoutova.

Có tham khảo nội dung sách những cây thuốc trị virus của miền Đông Bắc Ấn Độ.

Bình Dương, 18/03/2023
Phiên dịch viên: Tây Nguyên Xanh

No comments

Monday, February 27, 2023

TÔN XƯNG VÀ BIỆT XƯNG CỦA BÁC SĨ ĐÔNG Y THỜI PHONG KIẾN


    Bác sĩ Đông Y thời cổ đại có một tôn xưng là Trung Y (中医) và bốn biệt xưng là Kỳ Hoàng (岐黄), Thanh Nang (青囊), Hạnh Lâm (杏林) và Huyền Hồ (悬壶). Kể từ triều đại nhà Tống, bác sĩ được tôn xưng là Đại Phu (大夫) ở miền Bắc và Lang Trung (郎中) ở miền Nam.

1. Kỳ Hoàng (岐黄)

   Danh xưng này có nguồn gốc từ sách Hoàng Đế Nội Kinh (黄帝内经). Vì sách ghi chép lại cuộc thảo luận y học của Hoàng Đế và Kỳ Bá (岐伯) nên sách này được gọi là y thuật của Kỳ Hoàng. Tự nhiên, cái tên Kỳ Hoàng được dùng làm danh xưng của bác sĩ.

2. Thanh Nang (青囊)
    
    Thanh Nang là danh xưng liên quan đến điển cố của thầy thuốc nổi tiếng Hoa Đà (华佗) thời Tam Quốc. Nghe nói, trước khi Hoa Đà bị sát hại, vì báo ơn hầu hạ rượu thịt của một quan coi ngục mà Hoa Đà đã gói tất cả các sách y khoa trong một bọc (nang) màu xanh (thanh) rồi chuyển cho ông này. Sau khi Hoa Đà chết, vị cai ngục này chuyển nghề thành bác sĩ, lấy y thuật của Hoa Đà mà truyền bá rộng ra. Bởi vậy bác sĩ thời đó còn được gọi là Thanh Nang.

3. Hạnh Lâm (杏林)

   Hạnh Lâm là danh xưng liên quan đến câu chuyện của thầy thuốc nổi tiếng Đổng Phụng (董奉). Nước Ngô thời Tam Quốc có một vị danh y tên là Đổng Phụng, ẩn cư ở Lư Sơn, Giang Tây. Ông chữa bệnh cứu người miễn phí. Nhưng ông yêu cầu mỗi người bệnh nhẹ sau khi khỏi bệnh phải trồng một cây Hạnh (杏), còn người bệnh nặng sau khi khỏi bệnh phải trồng năm cây Hạnh. Sau nhiều năm, trước cửa nhà Đổng Phụng là một khu rừng cây Hạnh mênh mông. Vì thế người ta gọi bác sĩ là Hạnh Lâm.

4. Huyền Hồ (悬壶)

    Huyền Hồ là danh xưng liên quan đến truyền thuyết tu đạo cầu tiên. Truyện kể rằng, Phí Trưởng Phòng (费长房) ở Nhữ Nam, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) nhìn thấy bình hồ lô treo trên cây gậy của một cụ già bán thuốc. Kỳ lạ là khi trời tối, đường vắng thì cụ già này trốn trong bình hồ lô. Vì muốn tìm hiểu cặn kẽ, Phí Trưởng Phòng lấy rượu mời ông cụ. Cụ già này sao đó hẹn ông cùng vào trong hồ lô chơi. Bên trong hồ lô là tường ngọc diễm lệ, rượu thịt quý hiếm. Phí Trưởng Phòng lạy cụ già để xin bái sư học tiên đạo. Khi đã tinh thông pháp thuật, ông chào thầy để lên núi. Ông được thầy truyền tặng gậy trúc có thể chữa bệnh đánh quỷ, từ đó treo hồ lô hành nghề y. Bác sĩ kể từ đó thường đeo hồ lô ở bên hông nên dân gian gọi là bác sĩ là người Huyền Hồ (tức người đeo hồ lô)

5. Đại Phu (大夫) và Lang Trung (郎中)

    Trước thời nhà Tống, danh xưng bác sĩ ở Trung Quốc tương đối phức tạp, thường căn cứ theo chuyên khoa mà tiến hành gọi tên, ví dụ thực y (食医), tật y (疾医), kim sang y (金疮医)… Kể từ thời nhà Tống, bác sĩ bắt đầu có tôn xưng là Đại Phu ở miền bắc và Lang Trung ở miền nam . Tuy nhiên trước đó, vào thời Tam Quốc, Đại Phu vốn là quan giới (phẩm hàm) của một chức quan. Đại phu thời Tam Quốc có ba cấp là Thượng Đại Phu, Trung Đại Phu và Hạ Đại Phu. Thời Tần Hán thì quan giới lại phân thành Sử Đại Phu (史大夫), Gián Đại Phu (谏大夫), Thái Trung Đại Phu (太中大夫), Quang Lộc Đại Phu (光禄大夫). Còn như thời nhà Thanh thì không dùng đại phu làm quan giới nữa mà dùng năm cấp từ Nhất Phẩm đến Ngũ Phẩm. Bác sĩ trong Thái Y Viện được gọi là Đại Phu.

    Do ảnh hưởng của giọng địa phương, ở miền Nam, người Trung Quốc tôn xưng bác sĩ là Lang Trung. Lang Trung cũng vốn là tên chức quan thân cận với hoàng đế. Chức trách của nó nguyên là hộ vệ, kiến nghị tuỳ lúc và để sai khiến. Từ thời Chiến Quốc đã bắt đầu có danh xưng này, thời Tần Hán mới dùng nhiều. Sau này dần dần lại phân ra Thị Lang (侍郎), Lang Trung (郎中), Viên Ngoại Lang (员外郎). Chỉ đến thời nhà Tống thì danh xưng Lang Trung mới dùng cho bác sĩ.

    Lưu ý: Đây chỉ là phiếm đàm của cộng đồng mạng xã hội Trung Quốc. Không phải là sử liệu chính thức.
Bình Dương, 2702/2023
Kỳ niệm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27/02
Tây Nguyên Xanh biên dịch 
No comments

Wednesday, February 22, 2023

LỊCH SỬ TÊN GỌI QUẢ THANH LONG TỪ CỘI NGUỒN ĐẾN VIỆT NAM

Nguồn ảnh: Gourmet de mexico


    Hội ẩm thực Mexico đăng bài phân bua sự khác nhau của các tên gọi thanh long với giọng điệu như kiểu người Việt chúng ta cố tranh cãi quả dứa, quả thơm và quả khóm khác nhau như thế nào. Nhân thể tôi trích dịch hai trang viết trong sổ tay canh tác thanh long của viện khoa học và kỹ thuật nông nghiệp của nước cộng hoà Guatemala về nguồn gốc tên gọi của thanh long từ cội nguồn Mỹ Latin đến tên gọi ở Việt Nam:

    “Khi khám phá châu Mỹ, người Tây Ban Nha đã gọi cây thanh long là Pitaya hay Pitahaya. (Chú thích thêm của người dịch: Chữ H trong tiếng Tây Ban Nha không bao giờ được phát âm nên hai từ này phát âm gần giống nhau). Pitaya hay Pitahaya bắt nguồn từ ngôn ngữ Taíno thuộc quần đảo Antillas Mayores, có nghĩa là quả có vảy (fruta escamosa). Năm 1654, người Hà Lan đã đem thanh long đến trồng lên đất Đài Loan. Trong thời gian đô hộ, người Pháp đã trồng thanh long ở một số cánh rừng ở Việt Nam. Khi người Mỹ rải chất diệt cỏ lên các khu rừng thì chỉ còn cây thanh long còn sống. Và quả thanh long trở thành thức ăn sót lại cho người bản địa (ý tác giả sách là người Việt nói chung). Sau hoà bình, người Việt Nam bắt đầu trồng loại cây này nhằm thu hút du lịch (có lẽ tác giả sách muốn nói đến các buổi tham quan cánh đồng sáng đèn điện về đêm trong mùa hoa nở) và xuất khẩu với cái tên Thanh Long, nghĩa là quả của con rồng”.

    Xin nói thêm là người Trung Quốc gọi quả thanh long là Hoả Long Quả. Cho nên có thể nói cái tên Thanh Long do người Việt tự sáng tạo nên chứ không phải dịch từ Hán ngữ. Và lưu ý bài viết này nói về quả thanh long vỏ đỏ ruột trắng là chính, thanh long vỏ vàng ít được nghiên cứu trong lịch sử du nhập. Phần trong ngoặc kép được dịch từ trang 6 và trang 7 của tài liệu “Manual del cultivo de la pitaya” phiên bản tiếng Tây Ban Nha, kỹ sư nông nghiệp Jason C.S Wu soạn thảo. Sách do viện khoa học và kỹ thuật nông nghiệp (Instituto de Ciencia y Tecnología Agrícolas, ICTA) Guatemala ấn hành.

Bình Dương, 22/02/2023
Tây Nguyên Xanh


No comments

Monday, February 20, 2023

Đầu Ống Tưới Mương


   Những ngày này hoa cà phê đợt một nở trắng khắp nẻo đường Tây Nguyên. Còn hai đợt hoa và cũng là hai lần tưới nữa là hết mùa khô. Từ giờ đến đó, Tây sẽ miêu tả cho các bạn xem cảnh tưới cà phê như thế nào nhé. Khâu chuẩn bị ống máy thì mấy năm trước Tây kể rồi. Năm nay bắt đầu kể từ cái đầu vòi hút nước dưới mương đến hình ảnh cái béc phun trên trên cây nhé. Vì tiết kiệm nước nên công ty thường ráng chờ sau tết nguyên đán mới xả đợt nước đầu tiên. Tưới rồi cây mới có đủ sức phát dục nuôi hoa. Nước được lấy từ một cái hồ rất rộng. Ngày bé bọn con nít như Tây, khoảng mồng bốn tết nguyên đán hằng năm sẽ dậy lúc năm giờ sáng để theo ba má ra lô cà phê. Người lớn vác ống béc đi rải khắp lô, còn con nít như hai chị em Tây thì ngồi ngay cái đầu máy này canh xem thấy ai đến vác trộm ống trên xe thì hét to kêu ba má.

    Đầu máy trong ảnh này là của nhà hàng xóm chứ nhà Tây không có đầu máy rời, nó chính là cái đầu kéo xe công nông của ba Tây luôn. Ngoài cái đầu máy này, những nhà có điều kiện hơn còn có máy gọi là Si-ma màu đen to đùng lô cà phê ở quá xa mương khiến đường ống dài, chỉ có Si-ma mới đủ lực đẩy nước lên béc. Dưới cái vòi kia là một chụp lưới rất nặng để ngăn rác không lọt vào kẹt đầu vòi. Nếu dưới mương không được đào hố để đặt vòi thì phải có thêm một tấm ván to cùng với một cục đá nặng để chặn nước sao cho lút cái lồng chụp đầu vòi. Cái xô trong ảnh dùng để múc nước mương lên đổ vào cho mát máy đấy. Nước nóng chảy ra ướt đất, bọn con nít như Tây lại có thêm cái trò nặn đất chơi. Đất Tây Nguyên mùa khô khi thấm nước có mùi rất hay ho. Mùi này các bạn sẽ cảm nhận được rõ nếu đến Tây Nguyên vào cuối mùa khô. Khi ấy không khí có mùi như kiểu hơi đất hay gì đó nhưng khiến lưỡi có cảm giác ngòn ngọt. Mùi này nhẹ hơn mùi rễ cỏ tranh khi mới nhổ khỏi đất ẩm.

     Máy cứ nổ như thế trong bốn tiếng đồng hồ thì hết một ca. Đường ống được thay đổi hướng để tiếp tục ca mới ở khu vực mới. Một hecta thường phải tưới tất cả bốn ca. Tưới cà phê cực nhất là khi thay ca vì mang vác ống chứ khi nước phun lên rồi thì lại nhàn. Cứ tà tà các ông bố nhóm họp uống rượu, nói xấu các bà vợ keo kẹt của mình và lâu lâu hốt hoảng khi vợ hết anh nọ anh kia, béc không quay kìa, về mà sửa mau…
Bình Dương, 20/02/2023
Tây Nguyên Xanh
No comments

Thursday, February 2, 2023

XÃ HỘI GIA TỘC CỦA NGƯỜI PAIWAN Ở MIỀN NAM ĐÀI LOAN

(Quý tặng các bạn Ê Đê ở cao nguyên Dak Lak)

    Các bạn Ê Đê cho rằng họ có gốc là tộc người Hà Mỗ Độ ở hạ lưu sông Trường Giang, Trung Quốc. Tộc người này đã chèo thuyền vượt biển sang Đài Loan trước khi tìm đường đến các đảo ở Malaysia, Indonesia, Phillipines và Việt Nam. Nhân thể thành viên chi hội nhiếp ảnh Hoa Kỳ (PSA) tại Đài Loan đăng ảnh cảnh sống của tộc người Paiwan (排灣 trong các nghiên cứu Hán văn ) ở miền nam Đài Loan. Tôi dịch một bài nghiên cứu của nhân viên viện nghiên cứu trung ương Sinica, Đài Loan về tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo này.

Tác giả ảnh: Jeff  Wang


    Họ có tôn ti trật tự thứ bậc rất chặt chẽ trong gia đình. Thuật ngữ xã hội gia tộc (house society) lần đầu tiên được dùng bởi nhà nhân chủng học người Pháp Claude Lévi-Strauss khi ông nghiên cứu thứ tự xã hội của tộc người Kwakiutl Indian ở Bắc Mỹ. Ông chỉ ra rằng hệ thống dòng dõi đơn phương của nhân chủng học truyền thống không thể giải thích tổ chức xã hội của người Kwakiutl. Bởi vậy ông dùng thuật ngữ xã hội gia tộc để thay thế. Đơn vị xã hội cơ bản của tộc người Kwakiutl là “numayama”. Nó không thuộc chế độ mẫu hệ hay phụ hệ. Các thành viên của một “numayama” cùng chung tổ tiên, nguồn gốc quê hương và niềm tin tín ngưỡng. Một căn nhà của gia tộc có ba đặc điểm: Một là, nó có một cái tên xuyên suốt thời gian và không được phép biến mất. Hai là, có thể được trang trí tỉ mỉ (nhất là mặt trước). Ba là, căn nhà là nơi hành lễ cúng bái. Nói cách khác, những đặc trưng quan trọng của xã hội gia tộc là, căn nhà là một đơn vị của xã hội và căn nhà có nhiều gian phòng (kiểu chung cư) nhưng người sinh sống trong đó phải cùng huyết thống, dâu rể và con cháu.

   Nhà nhân chủng học Claude Lévi-Strauss cũng cho rằng các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo cũng có xã hội gia tộc. Thuật ngữ “umaq’ trong tiếng nói của người Paiwan cũng được dịch là nhà hay gia đình. Nhưng thực tế nghĩa của nó rất phức tạp và đóng vai trò then chốt để hiểu văn hoá của tộc người này. Người Paiwan sống ở miền bắc và trung Đài Loan sử dụng thuật ngữ “umaq” để biểu thị sống chung trong làng và thuật ngữ “tapau” để biểu thị cái chòi canh ở cánh đồng. Trong khi đó người Paiwan sống ở phía tây cao nguyên miền trung và phía nam ngoại ô Chunri sử dụng “tapau” để biểu thị là nơi cư trú còn thuật ngữ “umaq” lại là mồ mả. Nhìn vào lịch sử di cư của tộc người này trước thế kỷ 17, cho thấy người ta đã di chuyển từ khu vực gần các đỉnh núi phía bắc và nam núi Đại Vũ. Người di cư gọi nơi này là pa-uma-umaq có nghĩa là quê hương. “Umaq” có nghĩa cơ bản là nơi sống, nơi mà ở đó theo truyền thống họ thực hiện nghi thức an táng trong nhà. Như vậy nhà cho người sống và mộ cho người chết trở thành một. Lúc này thuật ngữ “umaq” trở thành nơi mà một người Paiwan sinh ra và nằm lại mãi mãi sau khi mất.

    Trong văn hoá của người Paiwan, gia tộc là một thực thể bền vững và luôn hiệp trợ trong hệ thống xã hội. Mỗi gia tộc có một cái tên (ngadan na umaq), thường là tên của căn nhà. Một căn nhà có thể thay đổi chủ sở hữu nhưng tên của nhà vẫn giữ nguyên. Và nếu gia đình chuyển đến nhà khác ở, tên căn nhà cũng không đổi. Nếu xây nhà mới thì sẽ đặt tên mới cho nhà. Nhưng nếu chủ nhà tháo rời căn nhà và xây lại thì tên căn nhà không được phép thay đổi.

    Nhìn vào lịch sử phát triển của tộc người này, chế độ phong kiến đã gần như giúp cho người Paiwan giữ vững được nếp sống truyền thống xã hội gia tộc.

***

Nguồn tham khảo nội dung file PDF: Kuo, S. (2021). The House Society of Paiwan Tribe in Southern Taiwan. Academia Letters, Article 3734.

No comments

Wednesday, December 28, 2022

NHỊN



    Trước đây, nghe người ta nói khi bị cảm cúm, nếu nhịn ăn hai ngày mà không khỏi thì cứ trảm đầu tôi. Mình nghe câu ấy, thấy phi lý bỏ bà đi được. Ốm đau, cần ăn để lấy sức mà khoẻ chứ. Nhưng càng ngày thời gian chữa lành cảm cúm của mình càng dài thêm. Ngày xưa khoảng 5 ngày, giờ gần một tháng vẫn ho có đờm như chó tập sủa. Uống thuốc Tây chán chê rồi quất hấp mật ong gì cũng thế thôi, cứ nằm xuống là biết tay nhau ngay. Nghĩ đến cảnh cơn ho giật bụng kéo dịch dạ dày trào ngược lên đến cái chỗ viêm ấy thì có mà ho vĩnh viễn và rung nhị tim thì toi. Ăn gì vào cũng chỉ lên men chứ không tiêu. Cứ như cơ thể đang tập trung chữa bệnh nên phát ra tín hiệu chán ăn để yêu cầu ngừng ăn, chữa xong rồi hẵng bồi bổ mà mình không nghe lời nó nên nó chống đối bằng cách không tiêu thức ăn vậy. Lại sợ cơ thể tích tụ hàn khí sẽ có máu đông trong người. Ờ thì nhịn xem sao. Có hai ngày thì chết ai đâu mà lo.

    Nhưng nhịn ăn mà chỉ uống nước lã thì dễ tai nạn giao thông vì tụt đường huyết lắm. Người ta uống chanh với đường cho mười hai ngày thanh lọc ruột. Mình chưa có ý định tuyệt thực lâu thế, tiết trời chưa ấm nên chưa dám. Nhà có mấy quả cam mới cúng hôm mồng một. Mình nấu nước sả, vắt cam và đổ mật ong vào. Trước đó đã tập nhịn bữa tối cho cơ thể tập làm quen rồi, sáng hôm sau vẫn ăn nhưng đến trưa thì nhịn hẳn. Cứ bụng réo rắt là nốc nước sả vào.

   Thế quái nào, không ăn gì chỉ uống như kẻ “nát nước sả” thì thấy người khoẻ khoắn phấn chấn hẳn. Tần số quánh rắm cứ phải gọi là ủm ủm liên miên. Bình thường ăn nho hoặc uống mật ong là người nóng lên, kiểu gì cũng sưng ung nhọt.  Bữa giờ cũng bị sưng môi, rát lưỡi vì uống mật ong hấp quất rồi. Thế quái nào, giờ không ăn gì chỉ uống mật ong pha nước sả thì các chứng viêm giảm đi trông thấy. Tuyệt diệu nhất là cơn ho giảm hẳn, cổ không ngứa nữa. Hôm nay ăn bát cháo đậu đen xanh lòng với gừng. Vừa ấm vừa ngon. Lần đầu trải nghiệm việc tuyệt thực. Thật thú vị.

Bến Cát, 28/12/2022

Tây Nguyên Xanh

 

No comments